Lạp xưởng
Toàn quốc

Lạp xưởng

“Xúc xích khô Việt Nam: ngọt béo đỏ au ở miền Tây, sậm màu khói dậy mùi mắc khén gác bếp ở vùng cao.”

Thịt, giò chả & nem
#Lạp xưởng#Lạp xưởng miền Tây#must-try

Giới thiệu

Lạp xưởng là loại xúc xích khô làm từ thịt heo (đôi khi thịt trâu, thịt bò) băm nhuyễn trộn với mỡ, ướp đường, muối, rượu và gia vị rồi nhồi vào lòng non, sau đó phơi nắng hoặc hun khói cho khô lại. Đây là một trong những món thịt chế biến để bảo quản lâu phổ biến nhất ở Việt Nam, vừa là thực phẩm dự trữ cho ngày Tết, vừa là đặc sản vùng miền được nhiều gia đình tự tay làm mỗi dịp cuối năm.

Điểm thú vị của lạp xưởng Việt là sự phân hóa rõ rệt theo vùng. Ở đồng bằng sông Cửu Long, lạp xưởng làm theo lối tươi, vị ngọt đậm, đỏ au và bóng mỡ. Lên vùng núi phía Bắc, người Tày, Nùng, Thái, Dao lại treo lạp xưởng trên gác bếp hun khói củi nhiều ngày, cho ra món thịt khô sậm màu, dậy mùi khói và gia vị rừng. Cùng một cái tên nhưng hai phong cách gần như là hai món ăn khác nhau.

Nguồn gốc & Đặc điểm nhận dạng

Kỹ thuật làm lạp xưởng bắt nguồn từ món lạp trường (xúc xích khô) của người Hoa, theo chân các cộng đồng người Hoa di cư vào Việt Nam mà phổ biến rộng rãi, đặc biệt ở Nam Bộ nơi có đông người Hoa sinh sống tại Sóc Trăng, Cần Thơ, Sài Gòn. Từ nền tảng đó, người Việt và các dân tộc thiểu số đã biến tấu theo nguyên liệu và khẩu vị bản địa, tạo nên nhiều dòng riêng biệt.

Đặc điểm chung của lạp xưởng là tỉ lệ nạc và mỡ cân đối, ướp đường nhiều hơn xúc xích phương Tây nên có vị ngọt rõ, thường thêm rượu trắng hoặc rượu mai quế lộ để dậy mùi và giúp bảo quản. Cây lạp xưởng thành phẩm khô, săn chắc, khi cắt lát thấy mỡ trong và nạc đỏ xen kẽ. Lạp xưởng miền Tây bóng đỏ, ngọt và béo; lạp xưởng vùng cao sậm màu khói, vị mặn cay, đậm mùi mắc khén, thảo quả, hạt dổi.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào