Bắc Ninh
Bắc Bộ

Bắc Ninh

“Bắc Ninh nằm ngay phía bắc Hà Nội, trên trục đồng bằng – trung du sông Cầu, sông Đuống và sông Thương. Đây vừa là cửa ngõ phía bắc Thủ đô, vừa là một trong những trung tâm công nghiệp điện tử và công…”

Diện tích
4.718,3 km²
Dân số
3,4 triệu người
Thời điểm đẹp nhất
Tháng Giêng – tháng 3 (mùa lễ hội)
Di sản UNESCO
3

Gồm các tỉnh cũ

Từ 2025, các tỉnh này đã hợp nhất. Địa điểm, món ăn và lễ hội của chúng đều nằm ở đây.

  • Bắc Giang
  • Bắc Ninh

Bắc Ninh nằm ngay phía bắc Hà Nội, trên trục đồng bằng – trung du sông Cầu, sông Đuống và sông Thương.

Đây vừa là cửa ngõ phía bắc Thủ đô, vừa là một trong những trung tâm công nghiệp điện tử và công nghệ cao lớn nhất cả nước (Samsung, Canon, Foxconn đều đặt nhà máy lớn ở đây).

Sau khi sáp nhập có hiệu lực từ 1/7/2025, tỉnh Bắc Ninh mới hợp nhất hai vùng đất Bắc Ninh và Bắc Giang cũ, có diện tích 4.718,6 km², dân số 3.619.433 người và 99 đơn vị hành chính cấp xã (66 xã + 33 phường). Tỉnh giáp Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Phòng và Hà Nội. Trung tâm chính trị – hành chính đặt tại Bắc Ninh hiện nay.

Đây là vùng đất Kinh Bắc cổ – cái nôi của văn hoá Việt với di sản UNESCO Quan họ, các trung tâm Phật giáo sớm nhất Việt Nam, làng tranh Đông Hồ, làng đồng Đại Bái, đồng thời là “vương quốc” của vải thiều Lục Ngạn nức tiếng cả nước. Bài viết dưới đây giới thiệu địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư và những điểm khám phá tiêu biểu của Bắc Ninh – tỉnh hợp nhất hai vùng đồng bằng Kinh Bắc và trung du Bắc Giang.

Địa lý & khí hậu

Tỉnh có địa hình hai phần khá rõ. Phần Bắc Ninh cũ phía tây nam là đồng bằng phù sa của sông Cầu và sông Đuống, độ cao trung bình chỉ vài mét trên mực nước biển, trải đều những làng nghề cổ và làng Quan họ ven sông. Đây là vùng đồng bằng có lịch sử khai phá lâu nhất Việt Nam, với hệ thống đê bao và làng xóm sắp xếp ven sông từ thời Lý – Trần.

Phần Bắc Giang cũ phía bắc và đông là vùng trung du, gò đồi xen kẽ với các thung nhỏ và bồn địa, kéo dần lên dãy Yên Tử và biên giới với Lạng Sơn. Vùng Lục Ngạn nằm trong lòng các dãy đồi thấp, đất bazan đỏ vàng đặc biệt thích hợp cho cây ăn quả – đây chính là yếu tố tự nhiên quyết định cho thương hiệu vải thiều. Sông Thương và sông Lục Nam tạo nên những lưu vực màu mỡ, còn hồ Cấm Sơn ở phía đông là một trong những hồ thuỷ lợi đẹp nhất miền Bắc với hơn ba mươi đảo nhỏ.

Khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt; nhiệt độ trung bình năm khoảng 23–24°C. Mùa khô mát từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khoảng thời gian phù hợp nhất để đi chùa, nghe Quan họ trong các canh hát đầu xuân (đỉnh cao là hội Lim diễn ra mùng 13 tháng giêng âm lịch). Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9 – đặc biệt tháng 6 là cao điểm vụ vải thiều Lục Ngạn, các đồi vải chuyển sang màu đỏ rực và cả vùng Bắc Giang cũ trở thành đại công trường thu hoạch – đóng gói – xuất khẩu trái cây lớn nhất miền Bắc, với hàng nghìn xe tải toả về Hà Nội, Hải Phòng và các cửa khẩu Lạng Sơn để xuất sang Trung Quốc.

Lịch sử & văn hoá

Vùng Kinh Bắc – tên gọi cổ của khu vực Bắc Ninh – được coi là một trong những cái nôi của văn hoá Việt. Đây là nơi xuất hiện trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Dâu) từ thế kỷ thứ 2, là trung tâm Phật giáo lớn nhất Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ trước khi được thay thế bởi Thăng Long. Bắc Ninh cũng là quê hương của Lý Công Uẩn – vị vua khai sáng triều Lý và dời đô về Thăng Long năm 1010 – cùng tám đời vua Lý sau đó. Hệ thống chùa Tứ Pháp ven sông Đuống (chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn) phản ánh tín ngưỡng tứ phủ Pháp Vân – Pháp Vũ – Pháp Lôi – Pháp Điện độc đáo của Việt Nam.

Bản sắc văn hoá Bắc Ninh kết tinh ở Dân ca Quan họ – lối hát đối đáp giữa các bọn liền anh, liền chị, được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Quan họ truyền thống có hơn 200 làn điệu, hát giao duyên không dùng nhạc cụ, đối ý đối từ và mặc áo tứ thân, nón quai thao. Hội Lim hằng năm thu hút hàng vạn khách trẩy hội nghe các canh hát giao duyên trên đồi và trong các lán Quan họ. Tranh dân gian Đông Hồ – tranh khắc gỗ in bằng mộc bản trên giấy điệp – là một trong hai dòng tranh dân gian Việt Nam còn được giữ ở mức làng nghề; làng Đông Hồ ở Thuận Thành đã được Nhà nước công nhận di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Phía Bắc Giang cũ tiếp tục mạch văn hoá đó với những cá tính riêng. Hệ thống chùa Bổ Đà với vườn tháp đá cổ độc đáo bậc nhất miền Bắc và chùa Vĩnh Nghiêm – nơi lưu giữ kho mộc bản gồm 3.050 ván khắc kinh sách Phật giáo bằng chữ Hán Nôm đã được UNESCO ghi danh năm 2012 vào Chương trình Ký ức Thế giới. Yên Tử Tây – sườn tây của dãy Yên Tử – nối với Yên Tử Quảng Ninh, là một phần quan trọng của con đường hành hương Trúc Lâm Yên Tử do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám (1884–1913) – cuộc khởi nghĩa kéo dài nhất chống Pháp – cũng diễn ra trên vùng đất này.

Làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh thuộc loại đa dạng nhất miền Bắc: đúc đồng Đại Bái sản xuất chuông, tượng đồng cho hàng trăm chùa khắp cả nước; gốm Phù Lãng có dòng gốm men nâu đặc trưng; gò đồng Đa Hội; chạm bạc Đồng Xâm; tre đan Thổ Hà với những bức tường gốm sành mộc mạc. Phía Bắc Giang cũ có làng nghề rượu làng Vân, làng tre Tăng Tiến, mì Chũ và các vùng vải thiều, na, cam Lục Ngạn được công nhận chỉ dẫn địa lý.