
Ninh Bình
“Ninh Bình nằm ở rìa nam đồng bằng sông Hồng, nơi những dãy núi đá vôi cuối cùng của miền Bắc đổ xuống đồng ruộng và mạng lưới sông ngòi chằng chịt trước khi nhường chỗ cho biển Đông. Tỉnh có vị trí c…”
- Diện tích
- 3.916,2 km²
- Dân số
- 3,7 triệu người
- Thời điểm đẹp nhất
- Tháng 5 – tháng 6 (lúa chín) và tháng Giêng – tháng 3
- Di sản UNESCO
- 1
Gồm các tỉnh cũ
Từ 2025, các tỉnh này đã hợp nhất. Địa điểm, món ăn và lễ hội của chúng đều nằm ở đây.
- Hà Nam
- Nam Định
- Ninh Bình
Gợi ý lịch trình Ninh Bình
Lịch trình mẫu
2 ngày · 6 điểm đến · 2 món đặc sản
Mùa đẹp nhất: Tháng 5 – tháng 6 (lúa chín) và tháng Giêng – tháng 3
- Ngày 1
Chùa Bái Đính → Cố đô Hoa Lư → Đồi dứa Tam Điệp
Món nên thử: Bánh cuốn Phủ Lý
- Ngày 2
Vườn quốc gia Cúc Phương → Bãi biển Hải Chính → Nhà Thờ Chính Tòa Giáo Phận Bùi Chu
Món nên thử: Bánh cuốn làng Kênh
Địa điểm nổi bật
Xem tất cảẨm thực
Xem tất cả
Ninh BìnhBánh cuốn Phủ Lý
Bánh cuốn Phủ Lý là món quà sáng nổi tiếng của thành phố Phủ Lý, Hà Nam cũ — nay thuộc tỉnh Ninh Bình mới (sáp nhập Ninh Bình, Hà Nam và Nam Định, giữ tên Ninh Bình từ tháng 7 năm…
Ninh BìnhBánh cuốn làng Kênh
Bánh cuốn làng Kênh là đặc sản trứ danh của Thành Nam, gắn liền với làng Kênh xưa — nay là khu vực đường Bái, phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định cũ, từ năm 2025 thuộc tỉnh Ninh…
Ninh BìnhBánh gai Nam Định
Bánh gai Nam Định là thứ quà cổ truyền của vùng Thành Nam: chiếc bánh nhỏ vuông vắn gói lá chuối khô, lớp vỏ đen bóng dẻo quánh thơm mùi lá gai, bên trong là nhân đậu xanh quyện…
Ninh BìnhBánh nhãn Hải Hậu
Bánh nhãn Hải Hậu là loại bánh viên tròn nhỏ, vàng giòn, làm từ bột nếp, trứng và đường rồi rán ngập mỡ — đặc sản nức tiếng của Hải Hậu, Nam Định cũ (nay thuộc tỉnh Ninh Bình mới…
Lễ hội
Xem tất cả
Ninh BìnhHội chợ Viềng
Tháng 2 · Mùng 6-8 tháng Giêng âm
Hội chợ Viềng tổ chức đêm mùng 7 rạng mùng 8 tháng Giêng âm lịch tại xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình (Nam Định cũ). Đây là phiên chợ độc nhất Việt Nam chỉ họp 1 đêm/năm.
Ninh BìnhHội vật Liễu Đôi
Tháng 2 · Mùng 5-10 tháng Giêng âm
Hội vật Liễu Đôi tổ chức mùng 5-10 tháng Giêng âm hàng năm tại làng Liễu Đôi (xã Thanh Bình, tỉnh Ninh Bình — Hà Nam cũ). Lễ vật cổ truyền — DSVHPVTQG 2017.
Ninh BìnhLễ Giáng sinh Nhà thờ đá Phát Diệm
Tháng 12 · 24-25/12 dương lịch
Lễ Giáng sinh tổ chức 24-25/12 dương lịch tại Nhà thờ đá Phát Diệm (xã Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình). Quần thể nhà thờ Á-Âu độc đáo do linh mục Phêrô Trần Lục xây 1875-1898.
Ninh BìnhLễ Tế Trời Đất Am Tiên
Tháng 1–2 · 23 tháng Chạp âm
Lễ Tế Trời Đất Am Tiên tổ chức 23 tháng Chạp âm (Tết Ông Công Ông Táo) tại chùa và động Am Tiên (phường Tây Hoa Lư, xã Trường Yên cũ, tỉnh Ninh Bình). Lễ cổ Đinh-Lê.
Câu chuyện văn hoá
Xem tất cảChưa có câu chuyện nào
Ninh Bình nằm ở rìa nam đồng bằng sông Hồng, nơi những dãy núi đá vôi cuối cùng của miền Bắc đổ xuống đồng ruộng và mạng lưới sông ngòi chằng chịt trước khi nhường chỗ cho biển Đông.
Tỉnh có vị trí chiến lược trên trục Bắc – Nam, cách Hà Nội khoảng 90 km về phía nam, với tuyến cao tốc và đường sắt Bắc – Nam đều đi qua, nên là điểm đến cuối tuần thuận tiện nhất từ thủ đô.
Sau Lễ công bố hợp nhất ngày 30/6/2025 và đi vào hoạt động từ 1/7/2025, tỉnh Ninh Bình mới chính thức gộp ba vùng đất cổ Ninh Bình – Nam Định – Hà Nam. Tỉnh có diện tích 3.942,6 km², dân số khoảng 4,4 triệu người và 129 đơn vị hành chính cấp xã (97 xã + 32 phường). Trung tâm chính trị – hành chính đặt tại Ninh Bình.
Đây là vùng đất từng là kinh đô đầu tiên của nước Đại Cồ Việt, đồng thời cũng là cái nôi của Phật giáo Bắc Việt, của nghệ thuật chèo cổ và của một loạt làng nghề ẩm thực có chỉ dẫn địa lý. Bài viết dưới đây giới thiệu địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư và những điểm khám phá tiêu biểu của Ninh Bình – tỉnh hợp nhất ba vùng đồng bằng – đá vôi – cửa biển của Bắc Bộ.
Địa lý & khí hậu
Tỉnh có địa hình ba lớp khá đặc trưng. Phía tây và tây bắc – tương ứng phần Ninh Bình cũ – là dãy núi đá vôi với hệ thống hang động, sông ngầm và rừng nguyên sinh Cúc Phương, trong đó nổi bật là quần thể Tràng An đã được UNESCO công nhận “di sản hỗn hợp văn hoá – thiên nhiên” năm 2014. Phía giữa là đồng bằng phù sa màu mỡ của ba con sông lớn – sông Đáy, sông Hoàng Long và sông Đào – cùng các phụ lưu, là vựa lúa và làng nghề lâu đời.
Phần đất Nam Định cũ phía đông và đông bắc là đồng bằng cửa sông kinh điển: sông Hồng và sông Đáy đổ ra biển qua các cửa Ba Lạt, cửa Đáy, tạo nên các huyện ven biển Hải Hậu, Giao Thuỷ với rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thuỷ – khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á. Bãi biển Quất Lâm và Thịnh Long là hai bãi tắm phẳng dài, được người Hà Nội ưa chuộng vào mùa hè. Phần đất Hà Nam cũ phía bắc giáp Hà Nội, là vùng chuyển tiếp giữa châu thổ và đồi núi đá vôi Kim Bảng – nơi có quần thể chùa Tam Chúc rộng lớn.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, bốn mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23–24°C. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, ít mưa và mát mẻ – thời điểm đẹp nhất để đi thuyền hang ở Tràng An – Tam Cốc, leo Hang Múa và viếng Bái Đính. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, đỉnh mưa rơi vào tháng 7–9. Cuối tháng 5 và đầu tháng 6, các thửa lúa Tam Cốc – Hang Múa chuyển sang màu vàng rực, được nhiều nhiếp ảnh gia coi là cao điểm trong năm; mùa thu trời cao và rừng Cúc Phương ngả vàng cũng là khung cảnh đáng đi.
Lịch sử & văn hoá
Ninh Bình giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lập kinh đô Hoa Lư – kinh đô đầu tiên của một quốc gia phong kiến tập quyền độc lập, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Triều Đinh (968–980), Tiền Lê (980–1009) và những năm đầu nhà Lý đều chọn Hoa Lư làm trung tâm chính trị, trước khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010. Dấu tích kinh đô cổ nằm gọn trong thung lũng đá vôi, cùng các đền thờ vua Đinh, vua Lê còn được giữ nguyên trên nền đất cũ và là một phần của di sản UNESCO Tràng An.
Vùng đất Nam Định cũ là quê hương nhà Trần – triều đại đánh bại quân Nguyên – Mông ba lần (1258, 1285, 1287–1288). Đền Trần và lễ hội Khai Ấn đầu năm tại Tức Mặc (Mỹ Lộc, Nam Định cũ) thu hút hàng triệu khách hành hương xin ấn cầu công danh. Đây cũng là vùng đất tổ của nghệ thuật chèo: bà Phạm Thị Trân thời nhà Đinh ở Hoa Lư được tôn là tổ chèo, sau đó nghệ thuật chèo phát triển rực rỡ ở các làng đồng bằng Bắc Bộ và đặc biệt được Nam Định gìn giữ với Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh và hệ thống các chiếu chèo làng. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ với trung tâm Phủ Dầy (Vụ Bản) đã được UNESCO ghi danh năm 2016 là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Vùng Hà Nam cũ đóng góp một lớp di sản tôn giáo và làng nghề rất đặc sắc. Quần thể chùa Tam Chúc ở Kim Bảng – được mệnh danh “ngôi chùa lớn nhất Việt Nam” – tựa lưng vào dãy Thất Tinh Sơn, mặt hướng hồ Tam Chúc với sáu hòn đảo đá. Phía Hà Nam còn có làng cá kho Vũ Đại (Hoà Hậu, Lý Nhân) – nơi sản sinh nguyên mẫu nhân vật Chí Phèo của Nam Cao và là làng nghề có chỉ dẫn địa lý cho cá kho niêu, mỗi nồi kho liên tục 14 giờ với 16 loại gia vị. Các làng dệt lụa Nha Xá, làng trống Đọi Tam và làng đá Kiện Khê (Hà Nam) đều có lịch sử hàng trăm năm.
Trở lại Ninh Bình cũ, không thể không kể đến trung tâm Công giáo Phát Diệm với nhà thờ đá độc đáo bậc nhất Đông Nam Á do linh mục Trần Lục (cụ Sáu) chỉ huy xây dựng cuối thế kỷ XIX, kết hợp kiến trúc Á – Âu một cách hiếm thấy. Lễ hội đình Trà Lũ, hội đền Đức Thánh Trần, hội chùa Bái Đính, lễ hội Trường Yên (Hoa Lư), lễ hội Phủ Dầy diễn ra rải rác đầu năm âm lịch tạo thành mùa lễ hội kéo dài, đậm đặc bậc nhất miền Bắc.
Nghề thủ công truyền thống cũng phong phú: gốm Bồ Bát (Yên Mô) là tổ nghề gốm Bát Tràng theo nhiều tài liệu địa phương, dệt chiếu cói Kim Sơn (Ninh Bình) sử dụng nguyên liệu cói trồng trên ruộng cửa biển, đan cói Nga Sơn (Thanh Hoá – giáp Ninh Bình) với hệ làng cói liền nhau, và làng nghề mộc đúc đồng Ý Yên (Nam Định) là một trong những trung tâm đúc tượng và chuông lớn nhất miền Bắc.
Dân cư & dân tộc
Ninh Bình mới có dân số 4,4 triệu người, mật độ rất cao (hơn 1.100 người/km²) do hợp nhất hai tỉnh đồng bằng đông dân là Nam Định và Hà Nam vào tỉnh Ninh Bình vốn cũng đông đúc. Tuyệt đại đa số là người Kinh, sinh sống tập trung ở các đô thị Ninh Bình, Nam Định, Phủ Lý và các làng nghề ven sông Đáy – sông Đào – sông Hồng. Người Kinh ở vùng này có tỉ lệ tín đồ Công giáo cao nhất miền Bắc, với khoảng 25% dân số ở Kim Sơn, Hải Hậu, Xuân Trường, Giao Thuỷ theo đạo Công giáo, để lại hệ thống nhà thờ đá – gạch dày đặc.
Khu vực miền núi phía tây – đặc biệt vùng Nho Quan, Cúc Phương giáp Hoà Bình – là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng người Mường, với một số bản còn giữ nhà sàn, cồng chiêng và làn điệu hát ru, hát ví riêng. Tiếng Việt là ngôn ngữ chung; ở vài bản Mường vẫn còn người sử dụng tiếng Mường trong sinh hoạt gia đình. Giọng Nam Định, Ninh Bình thuộc tiểu vùng đồng bằng Bắc Bộ, trong khi giọng Hà Nam có nét trung gian với giọng Hà Nội và xứ Thanh.
Khám phá & ẩm thực
Trải nghiệm tiêu biểu của Ninh Bình thường khởi đầu ở vùng karst phía tây. Cố đô Hoa Lư nằm ngay chân núi đá, với đền vua Đinh – vua Lê và những hàng cau cổ thụ, là điểm phải đến đầu tiên để hiểu bối cảnh ra đời của Đại Cồ Việt. Liền kề là Hang Múa với gần năm trăm bậc đá leo lên đỉnh nhìn xuống thung lũng Tam Cốc – cảnh quan biểu tượng của Ninh Bình. Du khách thiên về tâm linh thường ghép thêm Chùa Bái Đính – quần thể Phật giáo lớn nhất Việt Nam với hơn 500 pho tượng La Hán bằng đá, hành lang dài bậc nhất Đông Nam Á; còn nếu đi sang phần Hà Nam cũ, không thể bỏ qua Chùa Tam Chúc bên hồ rộng có sáu đảo đá, nơi từng tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2019.
Người yêu thiên nhiên có thể chèo thuyền nhẹ qua đầm Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long – nơi có loài voọc mông trắng quý hiếm, hay vào sân chim Vườn Chim Thung Nham; khách hứng thú với kiến trúc tôn giáo phương Tây không nên bỏ qua Nhà thờ đá Phát Diệm với năm hồ nước hình vuông, ba phương đình và một quần thể đá – gỗ đan xen Á – Âu. Phố cổ Hoa Lư mới được khôi phục cũng đáng đi bộ vào buổi tối; các bản dưới chân Cúc Phương đang phát triển homestay người Mường, ngủ nhà sàn và ăn cơm lam là trải nghiệm khác hẳn vùng đồng bằng phía đông.
Trở về sau ngày dài, ẩm thực địa phương chính là phần thưởng. Cơm cháy Ninh Bình – cơm gạo nếp ép giòn rồi chiên, ăn kèm ruốc và nước sốt thịt – là món nhất định phải thử, giờ đã trở thành đặc sản đóng gói có chỉ dẫn địa lý. Thịt dê núi Ninh Bình nuôi thả ở vùng karst cho thịt săn chắc, được chế biến thành tái chanh, hấp sả, nướng tảng hoặc nấu cháo dê. Người ưa món lạ có thể thử Miến lươn Ninh Bình hoặc Ốc núi Ninh Bình – loài ốc cạn sống trong các hốc đá vôi.
Phía Hà Nam cũ tiếp đãi khách bằng Cá kho làng Vũ Đại kho liên tục mười mấy giờ trong nồi đất với riềng, gừng và 16 loại gia vị, vỏ trấu giữ lửa cho chín đều. Trái cây tiến vua thì có Chuối ngự Đại Hoàng – giống chuối nhỏ thơm mát từng được chọn dâng cung đình nhà Trần. Vùng nông sản Yên Mô thì có Dứa Đồng Giao ngọt sắc, thường được chế biến thành nước ép và dứa sấy.
Sang khu vực Nam Định cũ, đừng bỏ qua Bánh xíu páo giòn vỏ kiểu Hoa kiều – đặc sản phố Khách Nam Định, và Bún đũa Thành Nam với sợi bún to bản đặc trưng, ăn cùng riêu cua đồng. Phở Cồ – tổ phở Việt – có nguồn gốc từ làng Vân Cù, Đồng Sơn (Nam Định cũ); đa số quán phở “Cồ” khắp Hà Nội và TP.HCM đều bắt nguồn từ dòng họ Cồ Nam Định. Tráng miệng có Bánh nhãn Hải Hậu – viên bánh tròn vỏ giòn nhân thơm – và Chân giò muối Ý Yên mặn ngọt cân bằng. Một chuyến ba đến bốn ngày là vừa đủ để bạn thấy Ninh Bình mới vừa cổ kính, vừa nguyên sơ, vừa đậm đà – hãy lên kế hoạch và để vùng đất này tự kể câu chuyện của nó.
