Ninh Bình
Bắc Bộ

Ninh Bình

“Ninh Bình nằm ở rìa nam đồng bằng sông Hồng, nơi những dãy núi đá vôi cuối cùng của miền Bắc đổ xuống đồng ruộng và mạng lưới sông ngòi chằng chịt trước khi nhường chỗ cho biển Đông. Tỉnh có vị trí c…”

Diện tích
3.916,2 km²
Dân số
3,7 triệu người
Thời điểm đẹp nhất
Tháng 5 – tháng 6 (lúa chín) và tháng Giêng – tháng 3
Di sản UNESCO
1

Gồm các tỉnh cũ

Từ 2025, các tỉnh này đã hợp nhất. Địa điểm, món ăn và lễ hội của chúng đều nằm ở đây.

  • Hà Nam
  • Nam Định
  • Ninh Bình

Ninh Bình nằm ở rìa nam đồng bằng sông Hồng, nơi những dãy núi đá vôi cuối cùng của miền Bắc đổ xuống đồng ruộng và mạng lưới sông ngòi chằng chịt trước khi nhường chỗ cho biển Đông.

Tỉnh có vị trí chiến lược trên trục Bắc – Nam, cách Hà Nội khoảng 90 km về phía nam, với tuyến cao tốc và đường sắt Bắc – Nam đều đi qua, nên là điểm đến cuối tuần thuận tiện nhất từ thủ đô.

Sau Lễ công bố hợp nhất ngày 30/6/2025 và đi vào hoạt động từ 1/7/2025, tỉnh Ninh Bình mới chính thức gộp ba vùng đất cổ Ninh Bình – Nam Định – Hà Nam. Tỉnh có diện tích 3.942,6 km², dân số khoảng 4,4 triệu người và 129 đơn vị hành chính cấp xã (97 xã + 32 phường). Trung tâm chính trị – hành chính đặt tại Ninh Bình.

Đây là vùng đất từng là kinh đô đầu tiên của nước Đại Cồ Việt, đồng thời cũng là cái nôi của Phật giáo Bắc Việt, của nghệ thuật chèo cổ và của một loạt làng nghề ẩm thực có chỉ dẫn địa lý. Bài viết dưới đây giới thiệu địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư và những điểm khám phá tiêu biểu của Ninh Bình – tỉnh hợp nhất ba vùng đồng bằng – đá vôi – cửa biển của Bắc Bộ.

Địa lý & khí hậu

Tỉnh có địa hình ba lớp khá đặc trưng. Phía tây và tây bắc – tương ứng phần Ninh Bình cũ – là dãy núi đá vôi với hệ thống hang động, sông ngầm và rừng nguyên sinh Cúc Phương, trong đó nổi bật là quần thể Tràng An đã được UNESCO công nhận “di sản hỗn hợp văn hoá – thiên nhiên” năm 2014. Phía giữa là đồng bằng phù sa màu mỡ của ba con sông lớn – sông Đáy, sông Hoàng Long và sông Đào – cùng các phụ lưu, là vựa lúa và làng nghề lâu đời.

Phần đất Nam Định cũ phía đông và đông bắc là đồng bằng cửa sông kinh điển: sông Hồng và sông Đáy đổ ra biển qua các cửa Ba Lạt, cửa Đáy, tạo nên các huyện ven biển Hải Hậu, Giao Thuỷ với rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thuỷ – khu Ramsar đầu tiên của Đông Nam Á. Bãi biển Quất Lâm và Thịnh Long là hai bãi tắm phẳng dài, được người Hà Nội ưa chuộng vào mùa hè. Phần đất Hà Nam cũ phía bắc giáp Hà Nội, là vùng chuyển tiếp giữa châu thổ và đồi núi đá vôi Kim Bảng – nơi có quần thể chùa Tam Chúc rộng lớn.

Khí hậu nhiệt đới gió mùa, bốn mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23–24°C. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, ít mưa và mát mẻ – thời điểm đẹp nhất để đi thuyền hang ở Tràng An – Tam Cốc, leo Hang Múa và viếng Bái Đính. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, đỉnh mưa rơi vào tháng 7–9. Cuối tháng 5 và đầu tháng 6, các thửa lúa Tam Cốc – Hang Múa chuyển sang màu vàng rực, được nhiều nhiếp ảnh gia coi là cao điểm trong năm; mùa thu trời cao và rừng Cúc Phương ngả vàng cũng là khung cảnh đáng đi.

Lịch sử & văn hoá

Ninh Bình giữ một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân và lập kinh đô Hoa Lư – kinh đô đầu tiên của một quốc gia phong kiến tập quyền độc lập, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Triều Đinh (968–980), Tiền Lê (980–1009) và những năm đầu nhà Lý đều chọn Hoa Lư làm trung tâm chính trị, trước khi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010. Dấu tích kinh đô cổ nằm gọn trong thung lũng đá vôi, cùng các đền thờ vua Đinh, vua Lê còn được giữ nguyên trên nền đất cũ và là một phần của di sản UNESCO Tràng An.

Vùng đất Nam Định cũ là quê hương nhà Trần – triều đại đánh bại quân Nguyên – Mông ba lần (1258, 1285, 1287–1288). Đền Trần và lễ hội Khai Ấn đầu năm tại Tức Mặc (Mỹ Lộc, Nam Định cũ) thu hút hàng triệu khách hành hương xin ấn cầu công danh. Đây cũng là vùng đất tổ của nghệ thuật chèo: bà Phạm Thị Trân thời nhà Đinh ở Hoa Lư được tôn là tổ chèo, sau đó nghệ thuật chèo phát triển rực rỡ ở các làng đồng bằng Bắc Bộ và đặc biệt được Nam Định gìn giữ với Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh và hệ thống các chiếu chèo làng. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ với trung tâm Phủ Dầy (Vụ Bản) đã được UNESCO ghi danh năm 2016 là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Vùng Hà Nam cũ đóng góp một lớp di sản tôn giáo và làng nghề rất đặc sắc. Quần thể chùa Tam Chúc ở Kim Bảng – được mệnh danh “ngôi chùa lớn nhất Việt Nam” – tựa lưng vào dãy Thất Tinh Sơn, mặt hướng hồ Tam Chúc với sáu hòn đảo đá. Phía Hà Nam còn có làng cá kho Vũ Đại (Hoà Hậu, Lý Nhân) – nơi sản sinh nguyên mẫu nhân vật Chí Phèo của Nam Cao và là làng nghề có chỉ dẫn địa lý cho cá kho niêu, mỗi nồi kho liên tục 14 giờ với 16 loại gia vị. Các làng dệt lụa Nha Xá, làng trống Đọi Tam và làng đá Kiện Khê (Hà Nam) đều có lịch sử hàng trăm năm.

Trở lại Ninh Bình cũ, không thể không kể đến trung tâm Công giáo Phát Diệm với nhà thờ đá độc đáo bậc nhất Đông Nam Á do linh mục Trần Lục (cụ Sáu) chỉ huy xây dựng cuối thế kỷ XIX, kết hợp kiến trúc Á – Âu một cách hiếm thấy. Lễ hội đình Trà Lũ, hội đền Đức Thánh Trần, hội chùa Bái Đính, lễ hội Trường Yên (Hoa Lư), lễ hội Phủ Dầy diễn ra rải rác đầu năm âm lịch tạo thành mùa lễ hội kéo dài, đậm đặc bậc nhất miền Bắc.

Nghề thủ công truyền thống cũng phong phú: gốm Bồ Bát (Yên Mô) là tổ nghề gốm Bát Tràng theo nhiều tài liệu địa phương, dệt chiếu cói Kim Sơn (Ninh Bình) sử dụng nguyên liệu cói trồng trên ruộng cửa biển, đan cói Nga Sơn (Thanh Hoá – giáp Ninh Bình) với hệ làng cói liền nhau, và làng nghề mộc đúc đồng Ý Yên (Nam Định) là một trong những trung tâm đúc tượng và chuông lớn nhất miền Bắc.