
Cải lương: sân khấu ca kịch Nam Bộ và bài vọng cổ
“Ca kịch Nam Bộ ra đời khoảng năm 1918, trục là bài vọng cổ đi lên từ Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu; chưa được UNESCO ghi danh, nhưng nền tảng đờn ca tài tử đ…”
Cải lương là loại hình ca kịch ra đời ở Nam Bộ đầu thế kỷ 20, kết hợp lối ca của đờn ca tài tử với hình thức kịch có lớp lang, tuồng tích, cảnh trí và phục trang.
Cái riêng của Cải lương là bài "vọng cổ": khi diễn viên "xuống hò", cả rạp lặng đi rồi vỡ òa vỗ tay. Đây là điệu hát xương sống mà không vở Cải lương nào thiếu, và cũng là điệu khiến khán giả Nam Bộ mê nhất.
Cải lương là gì
Trên sân khấu Cải lương, diễn viên vừa ca vừa diễn theo kịch bản có mở, thắt nút, cao trào, kết. Dàn nhạc gồm đàn tranh, đàn kìm (đàn nguyệt), đàn cò, ghi ta phím lõm (cây ghi ta khoét lõm phím để rung nhấn theo âm điệu Việt), sáo, đôi khi có cả violon. Cây ghi ta phím lõm là nét riêng: nhờ khoét phím, người đàn rung và nhấn được như đàn dân tộc, tạo ra chất "mùi" đặc trưng của Cải lương.
Cải lương dựng cảnh trí gần với đời hơn Tuồng và Chèo, phục trang và bài trí thay đổi theo tích: tuồng xã hội mặc đồ đời thường, tuồng cổ và tuồng hồ quảng thì mũ áo lộng lẫy, có cả cảnh cung điện, chiến trận. Đề tài rộng, từ chuyện tình éo le, gia đình, đến tích sử, truyện Tàu.
Người mê cải lương thường phân ra tuồng xã hội (đề tài đời thường, gần với kịch nói có ca) và tuồng cổ, tuồng hồ quảng (đề tài xưa, phục trang cầu kỳ, có vũ đạo). Cả hai đều lấy vọng cổ làm cột sống, nhưng không khí khác nhau: tuồng xã hội thấm và buồn, hồ quảng rực rỡ và nhiều màn múa. Người mới muốn nghe cái "mùi" đặc trưng của cải lương thì nên bắt đầu với tuồng xã hội, vì lời gần gũi và giọng ca dễ thấm.

Trục của một vở là các bài bản tài tử và nhất là vọng cổ. Một câu vọng cổ có sáu câu (nhịp), diễn viên ngân dài chữ cuối câu nói rồi "xuống hò" vào câu ca, chỗ này là đỉnh cảm xúc của lớp diễn. Xen giữa là nói lối, đối thoại, và các bài bản khác như "Nam ai", "Nam xuân", "Lý con sáo", "Phụng hoàng".
Xem thế nào cho lần đầu
Vở nên xem trước là những vở kinh điển như "Đời cô Lựu", "Tô Ánh Nguyệt", "Bên cầu dệt lụa", "Lan và Điệp", "Tiếng trống Mê Linh". Đây là các vở đã dựng đi dựng lại nhiều đời, có bản thu để nghe trước và nhiều nghệ sĩ gạo cội từng đóng.
Khi xem, chờ những đoạn diễn viên "vô vọng cổ": nghe tiếng đàn dạo, rồi diễn viên cất giọng ngân dài, câu ca trùng xuống ở chữ "hò" đầu tiên, đó là lúc khán giả sành thường vỗ tay tán thưởng. Để ý giọng ca Nam Bộ mềm, nhiều luyến, và cách ghi ta phím lõm rung nhấn bám theo giọng hát. Vở Cải lương thường dài, có cốt truyện tình cảm rõ ràng nên dễ theo dõi cho người mới, không cần "đọc" trình thức như Tuồng.
Lịch sử và danh hiệu
Cải lương hình thành khoảng năm 1918 ở Nam Bộ, đi lên từ đờn ca tài tử và lối "ca ra bộ" (vừa ca vừa ra điệu bộ minh họa). Bài "Dạ cổ hoài lang" do nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác ở Bạc Liêu vào khoảng năm 1919 là hạt giống, ban đầu nhịp đôi, về sau được mở rộng nhịp và kéo dài câu, phát triển thành bài vọng cổ như ngày nay.

Từ những năm 1930 đến 1970, cải lương là món giải trí lớn của người Nam Bộ, các gánh hát và nghệ sĩ ngôi sao kéo khán giả đầy rạp mỗi đêm, đĩa hát và sóng phát thanh đưa giọng ca đi khắp lục tỉnh. Đây là thời các vở kinh điển và các danh ca thành danh, để lại kho bài bản mà lớp sau còn hát theo. Về sau, trước sức cạnh tranh của phim ảnh và nhạc mới, cải lương thu hẹp lại nhưng vẫn giữ được lớp khán giả trung thành.
Cải lương hiện chưa được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên nền tảng của nó là Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013. Cải lương vẫn là sân khấu sống, có nhà hát chuyên nghiệp, có lượng khán giả riêng ở miền Nam và các chương trình truyền hình, thu âm đều đặn.
Nghệ sĩ và vở diễn tiêu biểu
Lớp nghệ sĩ gạo cội gắn với Cải lương gồm NSND Phùng Há, nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu), NSND Út Trà Ôn (được gọi là "vua vọng cổ"), và các thế hệ sau như Thanh Nga, NSND Bạch Tuyết, NSND Lệ Thủy, NSND Minh Vương, NSND Ngọc Giàu. Đây là những tên tuổi gắn với các bản thu và vở diễn được nhắc đến nhiều nhất, mỗi người có kiểu "hơi ca" riêng mà khán giả nhận ra ngay.

Về vở, ngoài các tuồng xã hội như "Đời cô Lựu", "Tô Ánh Nguyệt" còn có tuồng cổ và tuồng sử như "Tiếng trống Mê Linh", "Bên cầu dệt lụa", "Câu thơ yên ngựa". Mỗi vở đều có những lớp vọng cổ đã thành mẫu mực để nghệ sĩ trẻ học theo, và nhiều câu ca trong đó đã đi vào đời sống, người bình dân cũng thuộc lòng, hát theo được cả một lớp vọng cổ dài mà không cần nhìn lời, đó là sức sống của cải lương trong dân gian.
Xem ở đâu
Ở TP.HCM, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là địa chỉ diễn Cải lương lâu đời, dựng cả tuồng xã hội và tuồng cổ, có suất diễn định kỳ. Ở Hà Nội, Nhà hát Cải lương Việt Nam biểu diễn định kỳ và mang Cải lương đến khán giả phía Bắc. Vì lịch suất thay đổi theo tháng, nên xem thông tin trên trang hoặc fanpage chính thức của hai nhà hát trước khi đi.
Ngoài rạp, Cải lương còn diễn trong các chương trình sân khấu, đình miếu và lễ hội ở miền Tây Nam Bộ, nơi bài vọng cổ gắn với đời sống người dân từ trong nhà ra ngoài chợ, đám tiệc nào cũng có người ca vài câu.
Vở Cải lương thường dài, có khi hơn hai tiếng, nên xem tối muộn cần tính giờ về. Người mới nên chọn vở có bản thu quen thuộc để theo được lời và biết trước những lớp vọng cổ hay. Ở miền Tây, nếu có dịp dự một buổi đờn ca tài tử tại nhà dân hay điểm du lịch sông nước, bạn sẽ nghe được cái gốc của Cải lương ở dạng mộc nhất, chỉ vài cây đàn và giọng ca, không sân khấu. Muốn xem suất chính quy thì nên đặt vé trước qua nhà hát, vì các vở lớn có nghệ sĩ tên tuổi thường kín chỗ.
Đang tải bình luận…
Câu chuyện liên quan
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào


