
Chèo: sân khấu kể chuyện của làng quê đồng bằng Bắc Bộ
“Sân khấu dân gian đồng bằng Bắc Bộ diễn trên chiếu sân đình, nửa hát nửa nói với vai hề được quyền giễu đời; hồ sơ trình UNESCO tháng 3/2024, đang chờ xét.”
Chèo là loại hình sân khấu dân gian của người Việt vùng đồng bằng sông Hồng, xưa diễn ngay trên chiếu trải giữa sân đình, khán giả ngồi quây ba mặt.
Cái riêng của Chèo là lối diễn nửa hát nửa nói, xen tích truyện đạo lý với những màn hề tưng tửng để chọc cười, và vai hề Chèo được quyền pha trò, nói ngược, châm biếm cả quan lại ngay trong vở mà không sợ phạm húy.
Chèo là gì
Một gánh Chèo gồm diễn viên và một dàn nhạc ngồi bên mép chiếu: trống đế, trống cơm, nhị, sáo, mõ, thanh la. Trống đế giữ vai trò đặc biệt, người đánh trống có khi "đế" vào một câu đối đáp với diễn viên, tạo cầu nối giữa sân khấu và người xem, khiến buổi diễn có không khí trò chuyện chứ không tách bạch sân khấu với khán phòng.
Vai trong Chèo chia thành các loại quen thuộc: đào (nữ chính), kép (nam chính), lão (ông già), mụ (bà già) và hề. Mỗi loại vai có lối hát, lối đi, lối múa riêng đã thành khuôn. Diễn viên vừa hát làn điệu vừa nói lối (nói có nhịp điệu), vừa "nói sử" để kể tình huống, vừa múa những động tác ước lệ như chèo thuyền, quay tơ, cưỡi ngựa mà không cần đạo cụ thật. Vai hề đi kèm nhân vật chính, có hề gậy, hề mồi, chuyên gây cười và nói những câu tưởng đùa mà thâm, đụng đến thói hư tật xấu của người đời.
Sân khấu Chèo cổ rất giản dị: một chiếc chiếu, một cái hòm đựng đồ nghề vừa làm ghế vừa làm bục, phông màn tối giản. Chính sự giản dị đó buộc người xem tập trung vào diễn xuất và làn điệu.

Nhân vật trong Chèo cổ thường là những "mô hình" quen thuộc: người phụ nữ nết na chịu oan (như Thị Kính), cô gái táo bạo phá cách (như Thị Mầu, Xúy Vân), anh học trò nghèo, ông quan, mụ mối. Người xem quen mặt các loại nhân vật này nên vào vở là hiểu ngay ai vào vai gì. Cốt truyện Chèo cổ hay xoay quanh chuyện đạo lý, chữ hiếu, chữ nghĩa, nỗi oan của người phụ nữ, và bao giờ cũng có tiếng cười của vai hề xen vào để buổi diễn không nặng nề.
Xem thế nào cho lần đầu
Nếu mới xem, nên bắt đầu bằng những trích đoạn kinh điển đã thành mẫu mực: "Xúy Vân giả dại" (trong vở Kim Nham), "Thị Mầu lên chùa" (trong vở Quan Âm Thị Kính), và màn hề trong "Lưu Bình Dương Lễ". Đây là các trích đoạn hầu như gánh Chèo nào cũng diễn và người xem quen mặt, có nhiều bản dựng để so sánh.
Khi xem, để ý cách diễn viên chuyển giữa nói lối và hát: câu chuyện được đẩy đi bằng lời nói, cảm xúc dồn lên thì bật thành làn điệu. Chú ý các động tác múa ước lệ, một mái chèo tưởng tượng cũng đủ thành cả con thuyền, một vòng đi quanh chiếu là đã qua một chặng đường. Và đừng bỏ qua vai hề: chỗ khán giả cười to nhất thường là chỗ hề Chèo nói ngược, giễu đời, có khi ứng tác theo tình hình khán phòng.
Trích đoạn "Thị Mầu lên chùa" là bài dễ vào cho người mới: nhân vật Thị Mầu lẳng lơ, hát điệu tươi, diễn có duyên, gói được cái hồn hài hước và táo bạo của Chèo trong ít phút. Còn "Xúy Vân giả dại" thì ngược lại, là màn diễn buồn và khó, đòi hỏi diễn viên vừa hát vừa múa ra cái điên loạn của một người đàn bà bị dồn đến đường cùng, xem một lần khó quên.

Người mới nên chọn xem chương trình trích đoạn thay vì cả vở dài. Một buổi trích đoạn gồm dăm màn tiêu biểu của nhiều vở, có dẫn chuyện, giúp người xem làm quen với các làn điệu và loại vai mà không phải theo một cốt truyện dài mấy tiếng.
Lịch sử và danh hiệu
Chèo hình thành và phát triển lâu đời ở các làng quê đồng bằng Bắc Bộ, gắn với hội làng và sân đình. Kho tàng Chèo cổ để lại nhiều vở mẫu và hàng trăm làn điệu, được các nghệ nhân truyền miệng qua nhiều đời trước khi được ghi chép, dàn dựng lại trên sân khấu chuyên nghiệp.
Tháng 3 năm 2024, Việt Nam đã đệ trình UNESCO hồ sơ "Nghệ thuật Chèo đồng bằng sông Hồng" để xét ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tính đến giữa năm 2026, hồ sơ đang trong quá trình xem xét, Chèo chưa được UNESCO ghi danh. Ở trong nước, nhiều địa phương vùng đồng bằng đã đưa Chèo vào danh mục di sản và mở lớp truyền dạy cho lớp trẻ.
Nghệ sĩ và tích trò tiêu biểu
Các vở Chèo cổ mẫu mực gồm "Quan Âm Thị Kính", "Kim Nham" (với đào Xúy Vân giả dại), "Lưu Bình Dương Lễ", "Trương Viên", "Chu Mãi Thần". Những vở này là bài học vỡ lòng cho diễn viên Chèo và là thước đo tay nghề: hát được Xúy Vân giả dại cho ra chất điên mà vẫn thương là một cột mốc nghề.

Làn điệu Chèo có hàng trăm điệu, nổi tiếng như "Đào liễu", "Lới lơ", "Con gà rừng", "Duyên phận phải chiều", "Sa lệch chênh", "Vãn cầm", "Sắp qua cầu". Mỗi làn điệu gắn với một trạng thái: điệu buồn thương, điệu vui nhộn, điệu than. Lớp nghệ sĩ gạo cội gắn với Nhà hát Chèo Việt Nam và Nhà hát Chèo Hà Nội đã đưa nhiều trích đoạn cổ lên sân khấu chuyên nghiệp và truyền dạy cho lớp trẻ.
Xem ở đâu
Ở Hà Nội, hai địa chỉ diễn Chèo đều đặn là Nhà hát Chèo Việt Nam với rạp tại Kim Mã (Ba Đình) và Nhà hát Chèo Hà Nội. Cả hai dựng cả vở dài lẫn chương trình trích đoạn, thích hợp cho người mới muốn xem những màn tiêu biểu trong một buổi. Nên xem lịch trên trang hoặc fanpage chính thức của hai nhà hát vì suất diễn thay đổi theo tuần.
Ngoài rạp, vào dịp hội làng ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, vẫn còn những chiếu Chèo sân đình do các đội Chèo làng biểu diễn, gần với không gian gốc của loại hình. Xem Chèo giữa sân đình, ngồi trên chiếu cùng dân làng, là cách cảm được cái duyên mộc mạc của Chèo rõ nhất.
Nếu đi hội làng xem Chèo, nên tìm hiểu trước tích của vở, vì các đội Chèo làng thường diễn vở dài, không có phần dẫn chuyện cho khách lạ. Còn nếu xem ở rạp tại Hà Nội, hãy hỏi nhân viên chương trình hôm đó là vở dài hay trích đoạn để chọn cho hợp. Mùa hội làng ở đồng bằng Bắc Bộ tập trung vào dịp sau Tết, khoảng tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch.
Đang tải bình luận…
Câu chuyện liên quan
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào


