
Đờn ca tài tử Nam Bộ: âm nhạc miệt vườn của người phương Nam
“Nhạc thính phòng miệt vườn của người Nam Bộ, cái nôi của vọng cổ và cải lương, UNESCO ghi danh 2013. Hai mươi bản tổ, cách nghe cho lần đầu và chỗ nghe ở Cần T…”
Đờn ca tài tử là dòng nhạc thính phòng của người dân đồng bằng sông Cửu Long, ra đời cuối thế kỷ 19.
"Tài tử" ở đây nghĩa là người chơi nhạc vì đam mê, không lấy đó làm nghề kiếm sống. Đó là điểm gốc khiến loại hình này khác các dòng nhạc sân khấu: nó sinh ra trong nhà, ngoài vườn, sau mùa gặt, người biết đờn ngồi lại với người biết ca, chơi cho nhau nghe. UNESCO ghi danh đờn ca tài tử vào năm 2013.
Đờn ca tài tử Nam Bộ là gì
Một buổi đờn ca tài tử gồm người đờn và người ca. Bộ nhạc cụ quen thuộc có đàn kìm (đàn nguyệt), đàn tranh, đàn cò (đàn nhị), đàn tỳ bà, đàn bầu, và về sau thêm cây guitar phím lõm, loại guitar khoét sâu phím để nhấn nhá theo kiểu Việt. Người ca hát trên nền đờn, lời thường xoay quanh chuyện tình, cảnh sông nước, đạo lý ở đời.
Nền tảng bài bản của đờn ca tài tử là hệ thống hai mươi bản tổ, chia theo bốn điệu lớn: Bắc (vui, rộn), Hạ (trang nghiêm, dùng trong lễ), Nam (buồn, sâu) và Oán (bi thương). Bản nổi tiếng bậc nhất là Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, viết năm 1919 ở Bạc Liêu, sau này phát triển thành bản vọng cổ, xương sống của cải lương. Nói cách khác, đờn ca tài tử là cái nôi sinh ra sân khấu cải lương phương Nam.
Bản Dạ cổ hoài lang ban đầu có nhịp ngắn, kể nỗi nhớ của người vợ chờ chồng. Qua nhiều đời nhạc công, nó được nới nhịp dần thành vọng cổ với câu dài, mỗi câu kết bằng chữ "hò" ngân xuống nghe day dứt, và trở thành bài xương sống của cả tài tử lẫn cải lương. Cây guitar phím lõm gia nhập dàn nhạc từ khoảng thập niên 1930, khi người chơi khoét sâu phím cây đàn phương Tây để nhấn rung được như đàn dân tộc, một sáng tạo riêng của người Nam Bộ.

Nghe và xem lần đầu thế nào
Ở miệt vườn, một buổi đờn ca tài tử thường diễn ngay dưới mái nhà lá hoặc trong vườn cây trái, khách ngồi quanh bộ bàn gỗ. Người đờn dạo vài câu rao để lấy hơi, lấy dây, rồi người ca vào bài. Không có nhạc trưởng, không có bản nhạc trước mặt; người chơi nghe nhau mà nương theo, mỗi lần chơi lại nhấn nhá khác đi một chút.
Nghe lần đầu, bạn nên để ý cách người đờn "nhấn", tức là rung và luyến dây để một nốt cong lên cong xuống, đây là hồn của tiếng đờn Nam Bộ. Nếu nghe điệu Oán mà thấy nao lòng thì đó là đúng ý người xưa đặt ra điệu này. Không hiểu hết lời cũng không sao, vì với lần đầu, giai điệu và cách nhả chữ đã đủ để bắt được cái hay.
Một điểm dễ nhận của tài tử là tính ngẫu hứng. Người ca có thể kéo dài hay rút gọn một câu tùy hơi, người đờn theo đó mà chạy ngón cho khớp, nên hai buổi chơi cùng một bài vẫn khác nhau. Ở miền Tây, buổi chơi thường gắn với bữa ăn và ly rượu đế, khách và chủ ngồi chung, ai biết ca thì ca một bản góp vui, nên không khí gần gũi kiểu gia đình.
Lịch sử và UNESCO
Đờn ca tài tử hình thành cuối thế kỷ 19, trên cơ sở nhạc lễ và ca Huế theo chân người đi khai phá vùng đất phương Nam, rồi hòa với chất dân ca sông nước Cửu Long. Đầu thế kỷ 20, phong trào lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, gắn với những tên tuổi như Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu.

Trong quá trình lan rộng, đờn ca tài tử tách thành vài dòng chơi theo vùng, quen gọi là hơi đồng và hơi miệt vườn, mỗi nơi nhấn nhá một kiểu. Phong trào mạnh ở các tỉnh Bạc Liêu, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang và cả vùng Sài Gòn, gắn với những ban tài tử và thầy đờn có tiếng ở mỗi địa phương.
Tháng 12 năm 2013, tại kỳ họp ở Baku (Azerbaijan), UNESCO ghi danh Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Di sản trải trên 21 tỉnh, thành phía Nam, từ TP.HCM xuống tới mũi Cà Mau, với hàng nghìn câu lạc bộ và nhóm chơi ở cấp làng xã.
Nghệ sĩ, làn điệu tiêu biểu
Người được nhắc đến nhiều nhất là nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tác giả Dạ cổ hoài lang, bài ca gốc cho dòng vọng cổ. Ở Bạc Liêu có khu lưu niệm mang tên ông. Về bài bản, ngoài hai mươi bản tổ, người chơi hay diễn các bản như Lưu thủy trường, Phú lục, Nam xuân, Nam ai, Tứ đại oán, và tất nhiên là vọng cổ với cấu trúc câu "xuống hò" đặc trưng khiến người nghe vỗ tay mỗi khi ca công ngân dứt câu.
Điểm đáng quý của đờn ca tài tử là nó vẫn sống trong dân, không cần sân khấu lớn. Ở nhiều gia đình miền Tây, ông bà cha mẹ vẫn dạy con cháu đờn ca, và các nghệ nhân dân gian được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, Nghệ nhân nhân dân vì công giữ nghề.

Bên cạnh thầy đờn, người ca cũng có vai trò riêng. Một giọng ca tài tử hay là giọng biết ém hơi, nhả chữ tròn và luyến đúng chỗ, hợp với tiếng đờn. Ở các tỉnh miền Tây, phong trào đờn ca tài tử được duy trì qua các liên hoan cấp huyện, cấp tỉnh và các câu lạc bộ ở nhà văn hóa, nơi người mê đờn ca gặp nhau cuối tuần. Nhờ vậy mà lớp trẻ vẫn có chỗ học và chơi, giữ cho di sản này không chỉ nằm trong hồ sơ.
Xem ở đâu
Cách nghe đúng chất nhất là về miệt vườn miền Tây, ngồi trong vườn cây và nghe một nhóm tài tử địa phương chơi. Ở Cần Thơ có các buổi đờn ca tài tử gắn với tour miệt vườn và chợ nổi, chi tiết ở bài đờn ca tài tử ở Cần Thơ.
Nếu đi Bến Tre, bạn có thể ghép nghe đờn ca tài tử vào chuyến chèo xuồng trong rạch dừa, khi thuyền len giữa hai hàng dừa nước và nhóm đờn ca hát ngay trên xuồng hoặc ở điểm dừng, xem bài chèo xuồng rạch dừa Bến Tre. Mẹo: hỏi trước nhóm chơi có ca bản vọng cổ hay Dạ cổ hoài lang không, vì đó là hai bài dễ cảm nhất cho lần đầu.
Muốn tìm về gốc của vọng cổ, bạn có thể ghé Bạc Liêu, nơi có khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu và các buổi đờn ca gắn với câu chuyện ra đời bản Dạ cổ hoài lang. Ở nhiều điểm du lịch miệt vườn miền Tây, buổi đờn ca tài tử được xếp vào cuối hành trình tham quan vườn cây và chợ nổi, nên bạn nên xem lịch để ghép cho gọn một ngày.
Đang tải bình luận…
Câu chuyện liên quan
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào


