
Múa rối nước: sân khấu trên mặt nước của làng quê Bắc Bộ
“Sân khấu dân gian lấy mặt nước làm sàn diễn, con rối gỗ sung do nghệ nhân đứng dưới nước điều khiển, chú Tễu dẫn trò; loại hình gần như chỉ Việt Nam có, chưa đ…”
Múa rối nước là loại hình sân khấu dân gian độc đáo của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, lấy mặt nước ao hồ làm sân khấu.
Con rối gỗ chạy, bơi, múa trên mặt nước, còn người điều khiển đứng ngâm mình dưới nước sau một tấm mành, giấu mình khỏi khán giả. Đây là loại hình gần như chỉ Việt Nam có, sinh ra từ đời sống lúa nước và các phường rối làng vùng đồng bằng sông Hồng.
Múa rối nước là gì
Sân khấu là một mặt nước, phía sau dựng "thủy đình", một ngôi nhà mái cong như đình làng, có tấm mành che phía trước. Nghệ nhân đứng dưới nước sau mành, điều khiển con rối qua hệ thống sào tre dài và dây luồn dưới mặt nước, nên con rối tưởng như tự bơi, tự múa. Vì bộ máy giấu dưới nước nên khán giả chỉ thấy con rối và những gợn sóng, không thấy người điều khiển. Muốn con rối quay đầu, vẫy tay, giương cờ hay phun nước, người điều khiển phải phối hợp cả sào lẫn dây rất khéo, đây là phần khó nhất của nghề.
Con rối thường đẽo từ gỗ sung (loại gỗ nhẹ, nổi tốt), sơn phủ nhiều lớp cho chống nước, tạo hình dân dã và ngộ nghĩnh, mặt tươi, màu rực. Mỗi con rối gắn với một bộ máy dưới nước gồm sào và dây, có con máy đơn giản chỉ chạy tới lui, có con máy phức tạp cử động được cả tay chân, quay đầu. Nhạc đệm dùng dàn nhạc chèo với trống, mõ, nhị, sáo, thanh la, và có phường còn giữ lối hát pha giọng chèo, xẩm để dẫn trò và lồng lời cho các tích. Nhân vật dẫn chuyện quen thuộc là chú Tễu, một anh chàng bụng phệ, đóng khố, cười toe, chuyên mở màn, giáo trò và pha trò giữa các tích.
Việc đẽo rối và làm máy điều khiển là nghề riêng trong phường, đòi hỏi hiểu cả gỗ, cả nước, cả cơ chế đòn bẩy. Một con rối phải cân sao cho nổi đúng mực nước, không chìm cũng không nghiêng, và cử động được theo ý người điều khiển đứng cách đó vài mét sau mành. Nghệ nhân đứng trong nước hàng giờ, tay luồn dưới mặt nước, mắt nhìn qua khe mành để canh con rối cho khớp nhạc.

Xem thế nào cho lần đầu
Các tích ngắn dễ xem gồm "Chú Tễu giáo trò" (mở màn), "Múa rồng", "Vinh quy bái tổ", "Đánh cá", "Câu ếch", "Chăn vịt", "Múa tứ linh" (long, ly, quy, phượng), và tích "Lê Lợi trả gươm" gắn với truyền thuyết hồ Hoàn Kiếm. Một buổi thường gồm nhiều tích ngắn nối nhau, mỗi tích vài phút, nội dung tách bạch nên dễ theo dõi.
Khi xem, để ý cách con rối tương tác với nước: pháo thăng thiên bắn lên, rối phun nước, cá quẫy lặn, thuyền lướt, rồng uốn mình phun khói, tất cả tận dụng mặt nước làm hiệu ứng mà sân khấu khô không làm được. Chú ý chú Tễu dẫn trò bằng giọng hài, chọc cười khán giả. Và nhớ rằng toàn bộ đang được điều khiển bởi những người đứng ngâm dưới nước ngay sau tấm mành, nên sự ăn khớp giữa con rối và tiếng nhạc, tiếng hát là chỗ đáng nể nhất.
Lịch sử và danh hiệu
Múa rối nước có gốc từ đồng bằng Bắc Bộ, gắn với các phường rối làng và sinh hoạt hội hè quanh đình, ao làng. Bia đá cổ và tư liệu cho thấy loại hình này đã có từ nhiều thế kỷ trước, gắn với đời sống nông nghiệp lúa nước, nơi cái ao, cái đầm là một phần của làng.
Múa rối nước hiện chưa được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể. Trong nước, đây được xem là loại hình sân khấu truyền thống tiêu biểu và một số phường rối cổ đã được ghi nhận là di sản, nhưng danh hiệu của UNESCO thì chưa có. Dù vậy, tính độc đáo của việc diễn rối ngay trên mặt nước khiến loại hình này được biết đến rộng rãi với khách trong và ngoài nước, và trở thành một điểm xem quen thuộc khi tới Hà Nội.

Nghệ nhân và phường rối tiêu biểu
Nghề rối nước truyền theo phường, giữ trong làng qua nhiều đời. Các phường rối cổ nổi tiếng ở miền Bắc gồm phường Đào Thục (Đông Anh, Hà Nội), cùng các phường vùng Thái Bình, Nam Định, Hải Dương. Ở đó nghệ nhân tự đẽo rối, tự dựng thủy đình và giữ các tích trò cổ truyền lại cho con cháu, nhiều bí quyết máy móc điều khiển rối được giữ kín trong phường.
Các tích trò tiêu biểu xoay quanh đời sống nông thôn và truyền thuyết: cày cấy, chăn vịt, đánh cá, đấu vật, rước kiệu, múa lân múa rồng, cùng những tích lịch sử như "Lê Lợi trả gươm". Đây là kho trò chung mà hầu hết các phường và nhà hát rối nước đều diễn, tuy mỗi nơi có cách dàn dựng và con rối riêng.
Phường Đào Thục ở Đông Anh (Hà Nội) là một trong những phường rối nước cổ còn giữ nghề đến nay, với hàng trăm năm lịch sử và bộ tích trò riêng. Ở các phường như vậy, nghề được truyền trong họ, trong làng, người diễn ban ngày làm ruộng, tối mới ra ao diễn rối. Chính nếp sinh hoạt gắn với làng đó giữ cho rối nước cái chất mộc mạc, khác với các buổi diễn dựng sẵn cho khách trong nhà hát thành phố.

Rối nước Việt Nam từng đi diễn ở nhiều nước và được khách quốc tế biết đến như một loại hình lạ và riêng. Với người lần đầu tới Việt Nam, đây là một trong ít loại hình sân khấu truyền thống xem được mà không cần hiểu tiếng, vì câu chuyện kể bằng hình ảnh con rối và trò diễn trên mặt nước.
Xem ở đâu
Ở Hà Nội, Nhà hát Múa rối Thăng Long bên hồ Hoàn Kiếm là điểm diễn quen thuộc với nhiều suất mỗi ngày, phù hợp cho khách du lịch. Ở TP.HCM có sân khấu rối nước Rồng Vàng. Ở miền Trung có buổi diễn rối nước tại Hội An. Ở Quảng Ninh, làng Yên Đức giữ lối diễn rối nước gắn với không gian làng quê, diễn ngay bên ao làng cho khách xem.
Một buổi rối nước thường kéo dài khoảng 45 phút đến một tiếng, gồm nhiều tích ngắn, hợp cho cả trẻ em và người lớn. Ở Nhà hát Thăng Long, các suất tối rất đông khách, nên đặt vé trước và đến sớm để chọn chỗ ngồi giữa, nhìn thẳng mặt nước sẽ thấy rõ trò diễn nhất. Nếu muốn xem lối diễn gắn với làng quê hơn thì chọn Yên Đức hoặc phường rối cổ, tuy suất ít hơn và nên hỏi lịch trước.
Trên GoVietnam, các buổi múa rối nước được giới thiệu ở nhiều trang trải nghiệm: "Rối nước Thăng Long" (Hà Nội), "Rối nước Rồng Vàng" (TP.HCM), "Rối nước Hội An", và "Rối nước làng Yên Đức" (Quảng Ninh), mỗi trang có lịch suất, giá vé và cách đặt chỗ.
Đang tải bình luận…
Câu chuyện liên quan
Đánh giá
Chưa có đánh giá nào


