Tuồng (hát bội): sân khấu ước lệ với mặt nạ vẽ và võ trận
Loại hình văn hoá

Tuồng (hát bội): sân khấu ước lệ với mặt nạ vẽ và võ trận

“Sân khấu cổ điển với mặt nạ vẽ theo quy ước màu, trình thức ước lệ và võ trận, giọng hát gằn khỏe; chưa được UNESCO ghi danh riêng, gắn với danh nhân Đào Tấn.”

Toàn quốc04/11/2026

Tuồng, người miền Nam gọi là hát bội, là loại hình sân khấu cổ điển của người Việt, đề tài phần lớn xoay quanh vua tôi, trung nghĩa, những màn cung đình và chiến trận.

Cái riêng của Tuồng là lối ước lệ đẩy lên mức cao nhất: mặt nhân vật được vẽ (kẻ mặt) theo quy ước màu sắc để lộ ngay tính cách, mỗi bước đi, cái vuốt râu, động tác cầm roi ngựa đều là trình thức đã định sẵn, và diễn viên hát bằng giọng gằn, khỏe, đầy khí lực.

Tuồng là gì

Trên sân khấu Tuồng, khán giả đọc được nhân vật qua khuôn mặt vẽ. Mặt đỏ là người trung dũng, mặt trắng mốc thường là kẻ gian nịnh, mặt xanh là tướng nóng nảy hoặc yêu ma, mặt rằn ri nhiều màu là tướng dữ, các đường kẻ quanh mắt và trán đều có nghĩa. Râu (tam, ngũ, dài, ngắn, đen, bạc) và mũ áo cũng phân biệt vai vế, tuổi tác, phe trung hay nịnh.

Diễn xuất Tuồng theo trình thức ước lệ: cầm một cây roi là đang cưỡi ngựa, đi vòng quanh sân khấu là đã vượt ngàn dặm, vén màn là mở cửa thành, xoay người mấy vòng là đã sang một cảnh khác. Động tác múa võ, những màn đá, lăn, nhào trong cảnh chiến trận đòi hỏi diễn viên có căn bản như võ sinh, tập từ nhỏ. Giọng hát Tuồng vang, gằn, kết hợp với dàn nhạc mạnh mà trống chiến và kèn bóp (kèn sona) giữ vai chủ đạo, tạo không khí căng thẳng của trận mạc.

Vì mọi thứ đều ước lệ nên sân khấu Tuồng gần như trống, đạo cụ tối giản. Người xem phải "đọc" trình thức để hiểu chuyện, đó cũng là cái thú của Tuồng: xem quen rồi thì mỗi động tác đều có nghĩa.

Đưa hát bội đến với công chúng trẻ
Đưa hát bội đến với công chúng trẻ

Người trong nghề phân biệt tuồng thầy và tuồng đồ. Tuồng thầy là các vở cổ điển, bác học, lời văn chữ nghĩa, đề tài vua chúa trung nghĩa, diễn theo khuôn phép nghiêm. Tuồng đồ dân dã hơn, gần đời, nhiều màn hài châm biếm, dễ vào với người xem bình dân. "Nghêu Sò Ốc Hến" là một vở tuồng đồ nổi tiếng, giễu cảnh quan tham, thầy bói, người xử kiện, khiến khán giả cười mà thấm.

Xem thế nào cho lần đầu

Trích đoạn nên xem trước là "Ông già cõng vợ đi xem hội" (một màn hài kinh điển, một diễn viên đóng cả hai vai ông già và bà vợ trên cùng một thân người), và các lớp trong tích "Sơn Hậu" hay tuồng hài "Nghêu Sò Ốc Hến" (dân dã, dễ cười, châm biếm thói quan lại).

Khi xem, trước hết nhìn mặt nạ để đoán vai chính diện hay phản diện, rồi để ý cách diễn viên "biểu diễn" hành động thay vì làm thật: chú ý cây roi ngựa, bước chân dài, cái trợn mắt và động tác tay. Nghe tiếng trống chiến dồn dập báo hiệu sắp có cảnh đánh nhau, và tiếng kèn bóp réo lên ở những đoạn bi hùng. Tuồng hài như "Nghêu Sò Ốc Hến" dễ vào với người mới vì tình huống gần đời, còn tuồng cổ điển như "Sơn Hậu" thì nặng về trung nghĩa, cần theo dõi cốt truyện kỹ hơn.

Lịch sử và danh hiệu

Tuồng phát triển mạnh dưới các triều đại phong kiến, được trọng ở cung đình và lan ra dân gian, đặc biệt thịnh ở miền Trung như Bình Định, Quảng Nam, Huế. Ở Bình Định, tuồng ăn sâu vào đời sống làng xã đến mức dân gian có câu về việc mê hát bội. Danh nhân Đào Tấn (thế kỷ 19, quê Bình Định) là người soạn và nâng nghệ thuật Tuồng lên tầm bác học, để lại nhiều vở mẫu và được xem là ông tổ nghề tuồng ở nhiều đoàn hát.

Đặc sắc mặt nạ tuồng
Đặc sắc mặt nạ tuồng

Dưới triều Nguyễn, tuồng được diễn trong cung đình Huế, có nhà hát riêng và đội ngũ soạn giả, diễn viên phục vụ vua quan. Từ chốn cung đình, tuồng lan ra các đoàn hát dân gian, mỗi vùng miền Trung một lối diễn hơi khác nhau nhưng chung bộ trình thức kẻ mặt, múa võ, hát khách hát nam.

Tuồng hiện chưa được UNESCO ghi danh riêng như một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Ở trong nước, nghệ thuật Tuồng ở một số địa phương đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, và các nhà hát Tuồng vẫn giữ nghề, đào tạo lớp kế cận, phục dựng các vở cổ.

Nghệ sĩ và tích trò tiêu biểu

Các tích Tuồng cổ mẫu mực gồm "Sơn Hậu", "Tam nữ đồ vương", "Đào Tam Xuân loạn trào", "Ngũ hổ bình Tây", và tuồng hài "Nghêu Sò Ốc Hến". Đây là những vở dùng để dạy nghề và thử tài diễn viên, mỗi vở có những lớp diễn khó về cả hát lẫn múa võ.

Trong lớp nghệ sĩ Tuồng được cả nước biết đến có NSND Đàm Liên, người nổi tiếng với trích đoạn "Ông già cõng vợ đi xem hội" và được giới nghề xếp vào hàng những giọng Tuồng hàng đầu. Cùng thế hệ và trước đó có các nghệ nhân, nghệ sĩ gắn với Nhà hát Tuồng Việt Nam và các đoàn tuồng miền Trung, giữ vai trò truyền các trình thức kẻ mặt, múa võ và hát Tuồng cho lớp sau. Việc kẻ mặt trước mỗi buổi diễn cũng là một kỹ năng riêng, diễn viên tự vẽ mặt mình theo mẫu của vai, một khuôn mặt tướng dữ có khi mất cả tiếng đồng hồ mới vẽ xong với hàng chục đường nét và nhiều lớp màu chồng lên nhau theo đúng khuôn của từng vai.

Xem ở đâu

Ở Hà Nội, Nhà hát Tuồng Việt Nam biểu diễn tại rạp Hồng Hà (51 Đường Thành, Hoàn Kiếm), có các chương trình trích đoạn dành cho khách, gồm cả phần giới thiệu cách kẻ mặt và múa võ. Ở miền Trung, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) và các đoàn nghệ thuật truyền thống vùng Bình Định giữ và diễn nhiều tích cổ, gắn với quê hương của danh nhân Đào Tấn.

Tuồng là loại hình kén người xem hơn rối nước hay ca trù, vì giọng hát gằn và trình thức ước lệ cần thời gian làm quen. Người mới nên chọn chương trình có phần giới thiệu, hoặc bắt đầu bằng trích đoạn tuồng hài trước khi xem vở dài. Nếu xem ở rạp Hồng Hà, nên đọc trước tóm tắt tích để theo được mạch, vì lời tuồng cổ dùng nhiều chữ Hán Việt. Đến sớm còn có dịp xem diễn viên kẻ mặt hậu trường ở một số suất có mở phần này cho khách.

Trên GoVietnam, buổi xem Tuồng tại rạp Hồng Hà (Hà Nội) được giới thiệu ở trang "Xem Tuồng tại rạp Hồng Hà", kèm lịch suất, giá vé và cách đặt chỗ để xem trực tiếp lối kẻ mặt và võ trận trên sân khấu.

Đang tải bình luận…

Câu chuyện liên quan

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào